Hiện nay, có không ít trường hợp người sử dụng lao động giữ bản chính bằng cấp, giấy tờ tùy thân hoặc các giấy tờ cá nhân khác của người lao động nhằm ngăn cản việc nghỉ việc hoặc vì những lý do khác. Điều này gây khó khăn cho người lao động trong quá trình chấm dứt hợp đồng lao động và tìm kiếm công việc mới.
Vậy công ty có quyền giữ bằng cấp, chứng chỉ bản chính để buộc người lao động tiếp tục làm việc hay không?
Căn cứ khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động 2019 quy định về những điều người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động như sau:
“1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.”
Theo quy định của pháp luật lao động, người sử dụng lao động không được giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng lao động. Vì vậy, việc doanh nghiệp giữ bằng cấp hoặc giấy tờ gốc của người lao động là hành vi vi phạm pháp luật.
Theo đó bằng tốt nghiệp của hệ thống giáo dục gồm những loại sau đây:
+ Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở;
+ Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
+ Bằng tốt nghiệp trung cấp;
+ Bằng tốt nghiệp cao đẳng;
+ Bằng cử nhân;
+ Bằng thạc sĩ;
+ Bằng tiến sĩ;
+ Văn bằng trình độ tương đương.
Người sử dụng lao động bị xử phạt thế nào khi giữ giấy tờ gốc của người lao động trái quy định pháp luật?
Căn cứ điểm a, khoản 2 và điểm d khoản 3 Điều 15 Nghị định 283/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi giữ giấy tờ gốc của người lao động như sau:
Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động
“2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng hoặc chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động;
Biện pháp khắc phục hậu quả
...
d) Buộc người sử dụng lao động trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này; “
Căn cứ Điều 7 Nghị định 283/2025/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền và nguyên tắc áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính nhiều lần như sau:
“1. Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân; trừ trường hợp quy định tại: Điều 8; Điều 9; khoản 3 Điều 10; khoản 3, 4, 5, 6 Điều 19; khoản 2, 4 Điều 36; khoản 1 Điều 37; khoản 1, 5, 6, 7, 8 Điều 38; khoản 3 Điều 42; khoản 6, 11 Điều 48; Điều 49; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 50; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 52; khoản 4 Điều 53 của Nghị định này là mức phạt đối với tổ chức. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. “
Theo quy định, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Vì vậy, người sử dụng lao động là cá nhân vi phạm sẽ bị phạt từ 20 triệu đến 25 triệu đồng; nếu bên vi phạm là công ty thì mức phạt tăng lên 40 triệu đến 50 triệu đồng.
Ngoài ra, công ty còn bị buộc trả lại giấy tờ gốc đã giữ của người lao động theo quy định pháp luật.

Công ty luật TNHH Thái Việt - TVL LAW FIRM
+ Hotline: 0935789525
+ Email: thaivietluat@gmail.com
+ Fanpage: Luật Thái Việt – TVL Law Firm
+ Địa chỉ: 432 Lý Thái Tổ, phường Đồng Sơn, tỉnh Quảng Trị
www.luatthaiviet.com


